Cặp Đôi Của Thơ Hê-bơ-rơ (Daniel Hoàng)

    Về Tính Chất Cặp Đôi Và Song Hành Của Thơ Hê-bơ-rơ Trong Kinh Thánh (Daniel Hoàng).

Phủ nhận các đề xuất về tính chất âm tiết vần luật của thơ Hê-bơ-rơ, các học giả cố gắng giải quyết sự căng thẳng giữa các trường phái tư tưởng khác nhau về vấn đề âm luật bằng cách chuyển hướng nghiên cứu thơ Hê-bơ-rơ theo một khía cạnh khác.  Rabbi Azariah dé Rossie đề xuất rằng yếu tố cơ bản của thi luật của thi ca Hê-bơ-rơ trong Kinh Thánh là con số ý tưởng, nghĩa là con số từ được dùng trong một câu thơ, chứ không phải số âm tiết và trọng âm trong một câu thơ.  Ý tưởng của Azariah dé Rossi đã khai phá ra một phương hướng khác để thoát ra khỏi các nghiên cứu không có kết quả về âm luật.  Phương hướng nghiên cứu này tập trung vào ý nghĩa ngôn ngữ. Dẫn đầu phong trào là Robert Lowth. Trong Lectures on the Sacred Poetry of the Hebrews, Lowth viết:

The correspondence of one verse, or line, with another, I call parallelism.  When a proposition is delivered, and a second is subjoined to it, or drawn under it, equivalent, or contrasted with it, in sense; or similar to it in the form of grammatical construction; these I call parallel lines, and the words or phrases, answering one to another in the corresponding lines, parallel terms.  Parallel lines may be reduced to three sorts: parallels synonymous, parallels antithetic and parallels synthetic.[1]

Sự tương ứng của một câu, hoặc hàng thơ, với câu khác, tôi gọi là song hành. Khi một mệnh đề được đưa ra, và mệnh đề thứ hai được gắn liền với nó, hoặc được rút ra dưới nó, tương đương, hoặc đối chiếu với nó, theo ý nghĩa; hoặc tương tự với nó trong hình thức cấu trúc ngữ pháp; tôi gọi các câu đó là các câu song hành, và các từ hoặc cụm từ, đối chiếu với nhau trong các câu tương ứng, là các thuật ngữ song hành. Các câu song hành có thể được giới hạn trong ba loại: song hành đồng nghĩa, song hành tương phản ngược và song hành tổng hợp.

     Chỉ là tình cờ hay là vì tính chất song hành của thơ có thể tìm thấy được trong nhiều thể loại thơ trên thế giới? Tuy là không đề cập đến âm vị, nhận xét của Lowth về sự tương ứng về ngữ pháp và từ vựng giữa các cặp đôi trong thơ Hê-bơ-rơ chỉ có thể đúng hai trong ba phần khi so với thơ Đường luật của người Trung Hoa, đặc biệt là trong các câu đối 3 & 4 và 5 & 6 (đặc điểm trong phép đối/sự tương ứng trong thơ theo luật Đường phải hội đủ ba khía cạnh ngôn ngữ: âm thanh,  ý nghĩa từ vựng, và từ loại/cú pháp).

      Đề xuất của Lowth về sự tương ứng của từ vựng và văn phạm giữa các cặp đôi chỉ là một tiếng báo động để mở đường đi trước cho các công trình nghiên cứu về phương cách tiếp cận ngôn ngữ thi ca Kinh Thánh theo sau.  Nhận xét của Lowth có thành quả đóng góp lợi ích gì trong việc học hỏi nghiên cứu thi ca Hê-bơ-rơ hay làm đã làm lạc hướng?  Định nghĩa của Lowth về tính chất song hành vô tình đã tiêu chuẩn hóa một cách tuyệt đối đơn vị cặp đôi, “bicolon” thành một đơn vị xây dựng cơ bản của thơ Hê-bơ-rơ.  Đề xuất của Lowth về sự tương ứng và song hành của cặp đôi không thể được xem như là một định nghĩa mô tả thơ Hê-bơ-rơ một cách tuyệt đối được.  Theo định nghĩa này, cặp đôi là đơn vị cốt lõi của thơ Hê-bơ-rơ trong Kinh Thánh.

     Mặc dù nhiều người đã không nhìn ra được mâu thuẫn trong định nghĩa và phân loại thể song hành về cặp đôi của Lowth; đó là về sự tương ứng giữa các các câu thơ trong bài thơ, thì Lowth cho rằng sự tương ứng này bao gồm cả hai phạm trù ngữ nghĩa từ vựng và cú pháp văn phạm.  Thế nhưng khi phân loại, Lowth đề xuất ba thể loại song hành căn cứ theo căn bản ngữ nghĩa của câu chứ không liên hệ gì đến cấu trúc cú pháp văn phạm của câu.  Kết quả, nhiều học giả đương thời Lowth cho đến thế kỷ 20 sau Lowth, vì bị thuyết phục bởi định nghĩa cặp đôi song hành của Lowth, đã bỏ mặc việc nghiên cứu về hình thức xây dựng ngữ pháp, đó là những sự tương ứng về hình thái học và cú pháp của thi ca Kinh Thánh.  Cho nên, phần lớn các nghiên cứu trước đây đã căn cứ vào định nghĩa của Lowth về tính chất cặp đôi và song hành chỉ để giải thích các hiện tượng tương ứng ngữ nghĩa mà Lowth gọi là ý nghĩa (sense).  Roman Osipovich Jakobson viết:

The role performed by “figure of grammar” in world poetry from antiquity up to the present time is still surprising for students of literature a whole century after it was first pointed out by Hopkins.  The ancient and medieval theory of poetry had an inkling of poetic grammar and was prone to discriminate between lexical tropes and grammar figures (figuae verborum), but these sound rudiments were later lost.

Vai trò được thực hiện bởi “hình học ngữ pháp” trong thơ của thế giới từ thời cổ đại đến thời điểm hiện tại vẫn còn gây bất ngờ cho học viên văn học cả một thế kỷ sau khi đã được Hopkins chỉ ra. Lý thuyết về thơ cổ và trung cổ của thơ đã có sự hiểu biết về ngữ pháp thơ và có xu hướng phân biệt giữa tu từ vựng và cú pháp văn phạm (figuae verborum), nhưng những khái niệm sơ đẳng rất chuẩn này sau đó bị mất đi.[2]

     Tuy nhiên, công bằng mà nói, những nhận xét của Lowth là những nhận xét của một học giả ở trong thời điểm vào cuối thế kỷ 18, là thời điểm mà các nghiên cứu về tiếng Hê-bơ-rơ còn phôi thai.  Lowth không có các nguồn tham khảo và sách vở tài liệu về tiếng Hê-bơ-rơ như chúng ta đang có hiện nay, cho nên lúc đó Lowth không thể triển khai về phương diện cấu trúc cú pháp trong thi ca được.

     Nhận ra được sự thiếu sót trong định nghĩa song hành của Lowth, được trang bị với kiến thức hiện đại về ngôn ngữ tiếng Hê-bơ-rơ, các học giả cho rằng thi văn Hê-bơ-rơ rất phức tạp hơn nhiều so với những nhận xét căn bản của Lowth. Cốt lõi của lý thuyết của Lowth dựa trên giả định trước rằng tính chất tương ứng và song hành của cặp đôi là định nghĩa tuyệt đối để mô tả thi văn Hê-bơ-rơ trong Kinh Thánh, theo Lowth, cặp đôi là đơn vị cốt lõi của bài thơ. Tuy rằng nhận xét tính chất cặp đôi này gần như là chính xác cho tập thơ trong sách Châm Ngôn, Gióp, và Thi Thiên 119 , nhưng không thể áp dụng một cách tuyệt đối cho tất cả các tập thi ca khác trong Kinh Thánh.[3]

     Tưởng cũng nên nhắc lại rằng các bản văn MT cổ xưa và cả bản sao chép Codex Leningradensis, và các bản văn Hy Lạp của Tân Ước, cũng không có số phân đoạn và số câu.[4] Số phân đoạn  được thêm vào sau này để thuận tiện cho việc tra cứu từ vị.[5] Mặc dù sự đặt để số phân đoạn và câu có hữu ích riêng của nó, nhưng nó đã vô tình tạo nên nhiều vấn đề trong tác vụ giải nghĩa vì nhiều người vô tình chấp nhận các số phân chương và câu như là số của lằn ranh giới bất di bất dịch dùng để phân chia khúc chiết ý nghĩa của bản văn.  Tuy nhiên, nhận xét này cũng không phủ nhận truyền thống chia câu của Masoretes xuyên qua cách đánh dấu nghỉ và dấu liên kết (disjunctive and conjunctive accents), mặc dù sự đặt để các dấu của Masoretes đôi khi không tuyệt đối chính xác. Vì vậy, bản văn Kinh Thánh nên được đọc và nghiên cứu theo từng câu văn, và các từ vựng nằm trong vị trí cấu trúc của cú pháp của câu văn đó phải cần được phân tích và giải thích ý nghĩa trong văn cảnh của nó (theo thứ tự nhỏ đến lớn: từ ngữ, câu văn, đoạn văn, chương sách, và sách).

      Cho nên, nếu ta áp dụng tiêu chuẩn cặp đôi như là một đơn vị cốt lõi duy nhất của bài thơ thì ta không thể nhận ra được toàn bộ cấu trúc của bài thơ vì tiêu chuẩn này chỉ mô tả sự tương ứng ngôn ngữ trong hai câu, một cặp đôi, nằm kế cận nhau và không có sự kết nối với các câu khác không nằm cận nhau.  Lý thuyết của Lowth xác định một cách sai lầm tính song hành đồng nghĩa trong giới hạn rất hạn hẹp.[6] Xem lại dạng “song hành đồng nghĩa,” nếu hai câu, một cặp đôi, có cùng một ‎ nghĩa giống nhau hoặc rất gần giống nhau thì điều này nói nên rằng tác giả nói một câu, một ý tưởng, hai lần khác nhau.  Về thể loại song hành tổng hợp, thì sự sai lầm càng rõ rệt hơn, nghĩa là những cặp đôi nào mà không thể phân theo hai loại “song hành đồng nghĩa” và “song hành tương phản ngược” thì ta cứ cho vào cái rổ “song hành tổng hợp” để phân loại những dạng song hành mà Lowth không phân loại được.

     Nhận ra được những yếu điểm không tương xứng trong thuyết song hành của Lowth, các nghiên cứu gần đây được triển khai ra nhiều dạng song hành khác nhau.[7] Học giả cho rằng song hành là những hiện tượng tương ứng ngôn ngữ của hai câu nằm kề nhau, cặp đôi, được tạo thành bằng những thành tố thuộc phạm trù văn chương, văn phạm, từ vựng, và âm vị. Thiết nghĩ đề xuất rất bao quát này như là một màn lưới bao trùm mọi khía cạnh ngôn ngữ. Vậy vì tính chất bao quát của đề xuất này là yếu điểm thiếu sót vì tính chất tổng hợp của nó không mô tả và minh xác được định nghĩa của sự song hành của cặp đôi.  Tuy nhiên, những đề xuất gần đây của các mô hình ngôn ngữ khác nhau đã cho thấy nhiều tiến bộ trong việc hiểu câu thơ trong kinh thánh tiếng Hê-bơ-rơ.  Các học giả đã mở rộng và bồi đắp sửa đổi các nghiên cứu trước, họ cho rằng các hiện tượng ngôn ngữ về tính chất và hình thức về thi văn là những hiện tượng ngôn ngữ phổ quát toàn cầu trong nhiều ngôn ngữ khác nhau chứ không chỉ giới hạn trong thi văn Hê-bơ-rơ trong Kinh Thánh như đã từng tin tưởng.  Hơn nhiều thập niên sau xuất bản, các nghiên cứu về thi văn Hê-bơ-rơ của Berlin, Geller, Greenstein, Kugel, Pardee, Watson, O’Connor và của nhiều học giả khác vẫn tiếp tục là những nguồn tài liệu rất hữu ích. Đặc biệt là cuốn Dynamic of Biblical Parallelism của Berlin, một cuốn sách giá trị về sự tìm hiểu hiện tượng song hành của thi văn Hê-bơ-rơ trong Kinh Thánh.

     Tuy nhiên, các mô hình được đề xuất gần đây cho chúng ta nhiều câu hỏi về tính chất song hành nhiều hơn là câu trả lời: 1) tính chất song hành của hai câu nằm liền kề cận nhau, cặp đôi, góp phần vào sự thống nhất cấu trúc của bài thơ bằng cách nào? 2) Những yếu tố ngôn ngữ nào trong một cặp đôi có thể được dùng làm tiêu chí xác định để định loại các loại song hành cặp đôi? 3) Có bao nhiêu ví dụ được nêu lên để chứng minh số câu được định dạng vào loại song hành đó? Các loại song hành đã được đề xuất là đa số hay thiểu số? 4) Chức năng và hiệu quả của sự song hành đem đến những hiểu biết ý nghĩa của bài thơ là gì?

     Trừ phi chúng ta có thể khẳng định được sự phổ dụng của một số loại song hành đã được các học giả phân loại và đề xuất, học viên thơ Hê-bơ-rơ sẽ sớm nhận ra rằng chủ đề song hành gây nhiều tranh cãi như chủ đề của nhịp điệu thơ Vần. Vậy câu hỏi căn bản ta phải đưa lên là: Làm cách nào để mô tả thi văn Kinh Thánh, Thơ Vần hay là thơ không Vần? Định nghĩa của một câu thơ trong Kinh Thánh phải gồm có những thành tố ngôn ngữ nào? Đơn vị xây dựng khối cấu trúc của một bài thơ là gì?

Thư Mục

 Alonso, S. L.  A Manual of Hebrew Poetics.  SB 11.  Rome: Pontifical Biblical Institute,1998.

Berlin, Adele.  Poetic and Interpretation of Biblical Narrative. Winona Lake, Indiana: Almond Press, 1983.

————.  Dynamics of Biblical Parallelism.  Bloomington, Indiana: Indiana University Press, 1985.

Collins, Terence.  Line-Forms in Hebrew Poetry: A Grammatical Approach to the Stylistic Study of the Hebrew Prophets.  Rome: Biblical Institute, 1978.

Cooper, Aland M.  Biblical Poetics: A Linguistic ApproachMissoula, Montana: Scholars Press, 1979.

Freedman, David Noel.  Pottery, Poetry, and Prophecy: Studies in Early Hebrew Poetry. Winona Lake, Indiana: Eisenbrauns, 1980.

Geller, Stephen A.  Parallelism in Early Biblical Poetry.  HSM 20.  Missoula, MT: Scholars, 1979.

Gevirtz, S.  Patterns in the Early Poetry of Israel.  Studies in Ancient Oriental Civilization 32.  Chicago: University of Chicago Press, 1963.

Krašovec, J.  Antithetic Structure in Biblical Hebrew Poetry.  SVT 35Leiden, Netherlands: Brill, 1984.

Kugel, James L.  The Idea of Biblical Poetry: Parallelism and its History.  New Haven, Connecticut: Yale University Press, 1981.

Lowth, Robert.  Lectures on the Sacred Poetry of the Hebrews.  Translated by G. Gregory.  1839.  Repr., Whitefish, Montana: Kessinger Publishing, 2004.

O’Connor, Michael Patrick.  Hebrew Verse Structure.  Winona Lake, Indiana: Eisenbrauns, 1980.

————.  Contour of Biblical Hebrew Verse: An Afterword to Hebrew Verse Structure.  Winona Lake, Indiana: Eisenbrauns, 1997.

Watson, Wilfred G. E.  Classical Hebrew Poetry: A Guide to its Techniques.  JSOTSup 26.  Sheffield, England: JSOT Press, 1984.

————.  Traditional Techniques in Classical Hebrew Verse.  JSOTSup 170.  Sheffield, England: JSOT Press, 1994.

[1] Trích trong bài viết của Adele Berlin, “Azariah de’ Rossi on Biblical Poetry,” Prooftexts 12 (1992), 175−83.  Trích trong Robert Lowth, Isaiah: A New Translation (London: Wm. Tegg and Co., 1778), viii.  Tham khảo thêm những bài viết về Lowth trong Sacred Conjectures: The Context and Legacy of Robert Lowth and Jean Astruc (John Jarick chủ bút, LHBOTS 457; London/New York: Clark, 2007): Scott Mandelbrote, “Biblical Scholarship at Oxford in the Mid-Eighteenth Century: Local Contexts for Robert Lowth’s De Sacra Poesi Hebraeorum,” 1−24; Anna Cullhed, “Original Poetry: Robert Lowth and Eighteenth-Century Poetics,” 25−47; Stephen Prickett, “Robert Lowth and the Idea of Biblical Tradition,” 48−61; Christopher Bultmann, “After Horace: Sacred Poetry at the Centre of the Hebrew Bible,” 62−82; John Rogerson, “Charles François Houbigant: His Background, Work, and Importance for Lowth,” 83−92; Markus Witte, “Die literarische Gattung des Buches Hiob: Robert Lowth und seine Erben,” 93−123.  Cùng đề tài, xem Adele Berlin’s Biblical Poetry through Medieval Jewish Eyes (Indianapolis: Indiana University Press, 1991).

[2] R. Jakobson, “Poetry of Grammar and Grammar of Poetry,” Lingua 21 (1968), 604.  Cùng tác giả, “Grammatical Parallelism and Its Russian Facet,” Language 42 (1966), 423.

[3] Michael P. O’Connor, Contour of Biblical Hebrew Verse: An Afterword to Hebrew Verse Structure (Winona Lake, Indiana: Eisenbrauns, 1997), 632.

[4] Ngoại trừ số của 150 bài thơ trong sách Thi thiên trong Codex Leningradensis.

[5] Số chương: khoảng thế kỷ 10 AD; số câu: khoảng thế kỷ 13 AD.

[6]Cùng đề xuất, Gray, Forms of Hebrew, 48-50; cũng như O’Connor, Contour, 632.

[7]Adele Berlin, Dynamic of Biblical Parallelism (Bloomington, IN: Indiana University Press, 1985).  O’Connor, Berlin, Kugel, và Pardee là những chuyên gia ngôn ngữ học đồng thời. Tham khảo James Kugel, Idea of Biblical Poetry: Parallelism and its History (New Haven: Yale University Press, 1981).

Daniel Hoàng, Ph.D.

Spread the word. Share this post!

error: Content is protected !!